Đây là một lý do khiến Warren tránh xa các cổ phiếu công nghệ. Đó là lý do vì sao Warren thích thị trường giá giảm; ông đã để ý các công ty tuyệt vời mà ông sẽ chộp ngay nếu ông tìm được giá phù hợp. Ngoài ra, khi cổ phiếu xuống giá, không có lý do gì bạn lại nổi giận với nó - nó đâu có biết bạn đang sở hữu nó.
Nhà quản lý quỹ được thuê để đặt cược trên những cổ phiếu sẽ tăng giá trong vòng ba hay sáu tháng, không quan tâm đến cơ cấu kinh tế dài hạn của công ty bằng xu hướng dao động về giá. Giảm chi phí và tăng doanh thu chỉ là việc nâng bút lên hay xuống. Cách duy nhất bạn có thể làm hỏng mọi thứ là đưa ra một loạt các quyết định sai lầm.
Hỏi nhà tư vấn liệu bạn có gặp vấn đề gì không thì ông ta sẽ tìm ra cho bạn một vấn đề - ngay cả khi bạn không có vấn đề gì. Phải cần thời gian để cho giá trị doanh nghiệp tăng lên - điều này không thể thực hiện qua đêm. Khi thị trường chứng khoán sụp đổ năm 1973 - 74, bạn có thể mua Ogilvy & Mather, một trong những công ty quảng cáo mạnh nhất trên thế giới, với giá 4 đôla một cổ phiếu khi lợi nhuận mỗi cổ phiếu là 0,76 đôla, tương đương với tỉ lệ P/E (giá/lợi nhuận) là 5.
Bạn đã thấy xu hướng chưa? Bạn có nghĩ mình dự đoán được những công ty này sẽ bán món gì trong mười lăm năm nữa không? Nếu bạn làm được, thì bạn có thể chính là một Warren Buffett tiếp theo. Viết về một vấn đề buộc bạn phải suy nghĩ về nó; và nghĩ về những nơi sẽ đầu tư là một việc tốt, vì vậy viết về nó sẽ còn tốt hơn nữa. Kế hoạch của họ rất đơn giản - họ sẽ làm giàu bằng cách giúp bạn giàu có, và họ phải giữ chân bạn bằng cách thuyết phục bạn rằng trò chơi đầu tư rất phức tạp đến mức bạn không thể hiểu được.
Ông đứng bên lề mãi đến tận năm 1973, khi cả thị trường chứng khoán sụp để và bỗng dưng ngay cả những công ty giỏi nhất cũng dược bán với giá hời. Warren nghe theo lời của Ben mua với giá thấp để có mức an toàn và kết hợp nó với lời của Phil mua cổ phiếu của những công ty có chất lượng cao và giữ thật lâu thành một phương châm của mình mua cổ phiếu của những công ty có chất lượng cao với giá thấp hơn tương quan giá trị và giữ chúng trong thời gian dài. Những công ty như Wrigleys và Coca-Cola không bao giờ phải chi hàng tỉ đôla để thiết kế lại sản phẩm của mình hay trang bị mới cho nhà máy sản xuất, vì vậy họ có nhiều tiền để làm những việc vui thú hơn như mua lại cổ phần của chính mình.
Ông thừa nhận một cách thoải mái rằng trên sân golf ông không có nhiều cơ may. Nguyên tắc này buộc bạn phải tìm hiểu tận tường trước khi mua cổ phiếu. Tốt hơn là ta nên học từ sai lầm của người khác.
Bài tập này giúp ông rất nhiều trong việc điều chỉnh suy nghĩ của mình về cách làm giàu tiền tỉ. Con đường phía trước có bằng phẳng hay không là nhờ khả năng nhìn thấy trước những rắc rối phiền toái. Đó là những gì Warren đi tìm - một tình huống đầu tư ông biết chắc sẽ xuất hiện nếu tình hình thuận lợi.
Chúng ta học hỏi được từ lịch sử một điều rằng con người không biết học hỏi từ lịch sử. 000 với lãi gộp 15% trong vòng 20 năm sẽ đạt tới mức $1.636.653 vào năm thứ 20, tức là số tiền lời của bạn là $1.536.653. Nhưng giả sử bạn bị mất $90.000 trong số tiền đầu tư ban đầu trước khi bắt tay vào kinh doanh và chỉ còn $10.000 để đầu tư. Warren Buffett biết rằng thời điểm mua cổ phiếu là khi mọi người khác đều bán ra, không phải lúc mọi người đều mua vào.
Tôi có một người bạn mất hai mươi năm để đi tìm người đàn bà hoàn hảo của cuộc đời mình; nhưng không may là khi anh ta tìm được cô ấy, anh ta phát hiện ra cô ấy cũng đang đi tìm người đàn ông hoàn hảo của đời mình. Nhà đầu tư Bernard Baruch vĩ đại nổi tiếng trong những năm 1920 vì ông luôn bán ngay lập tức cổ phiếu nếu có ai đó chia sẻ với ông thông tin tay trong nóng hổi. Quy luật của Warren rất đơn giản: Nếu không giải thích được thì đừng tham gia.
Tôi có một người bạn mất hai mươi năm để đi tìm người đàn bà hoàn hảo của cuộc đời mình; nhưng không may là khi anh ta tìm được cô ấy, anh ta phát hiện ra cô ấy cũng đang đi tìm người đàn ông hoàn hảo của đời mình. Gates làm được chỉ bằng một cổ phiếu duy nhất, và Warren làm được với khoảng nửa tá. Nhưng nhìn chung, thị trường chứng khoán có khuynh hướng định giá cao cho cổ phiếu.