Theo chúng tôi, hầu hết các vở kịch đều không nhất thiết phải đọc vì chúng được viết ra là để diễn trên sân khấu. Mỗi điều kiện là một lời khuyên hữu ích giúp độc giả biết trân trọng phép lịch sự trong tranh luận. Việc phân loại và sắp xếp các cuộc tranh luận này cũng như các vấn đề cốt lõi đưa chúng ta đến bước cuối cùng của cách đọc này.
Một độc giả không thể phân tích ngôn từ để hiểu những thuật ngữ và nhận định ẩn trong đó thì cũng không thể đối chiếu các tác phẩm liên quan đến nhau. Tuy nhiên, truyện lại khác với cuộc đời ở đúng trang cuối của nó. Mục đích chính là tìm hiểu xem cuốn sách có yêu cầu bạn phải đọc kỹ hơn không.
Những câu hỏi đơn giản kiểu trẻ con mà các triết gia hỏi là gì? Khi viết ra, dường như chúng chẳng đơn giản tí nào bởi vì trả lời chúng không dễ. Độc giả phải tìm ra sự thống nhất đó, tìm ra điểm khác biệt và trật tự của các phần. Để chứng minh điều này, bạn cần chỉ ra được kiến thức mà tác giả còn thiếu và phải chứng minh được vì sao nó thích đáng, cũng như nó sẽ dẫn đến những thay đổi như thế nào trong các kết luận của tác giả.
Hoặc với sách lịch sử, nếu bạn muốn khám phá ra sự thật của quá khứ thì bạn phải đọc rất nhiều cuốn sách về thời kỳ đó thay vì chỉ đọc một quyển. Trong các chuyên luận đó, có những tác phẩm được cho là thông dụng và đa số chúng là các đoạn đối thoại. Con người là những động vật có lý trí.
Chân lý, giả định, hay các nguyên lý cơ bản đều cần đề làm chứng cớ chứng minh những nhận định khác. Không có vấn đề nào trong các vở kịch Hy Lạp là không thể giải quyết nếu như có đủ thời gian, nhưng thời gian lại chẳng bao giờ đủ. Aristotle gọi cuốn Physics (Vật lý) của ông là một chuyên luận khoa học, mặc dù theo cách dùng hiện nay thì cuốn sách đó mang tính triết học nhiều hơn.
Do đó, bạn có thể biết được đôi điều về tương lai từ sử gia, dù người đó có thể giống như Thucydides sống cách đây 2. Nhưng có sự khác biệt quan trọng giữa hai hình thức học tập này. Nếu có thì chúng thưòng được che giấu bằng những miêu tả dài dòng và chỉ người nào đọc tỷ mỷ mới có thể phát hiện ra.
Bạn có thể áp dụng nhiều cách sử dụng từ điển hiệu quả đã nói ở trên đối với bách khoa toàn thư. Một ví dụ khác là Shaw, người không những muốn kịch của mình được dựng trên sân khấu mà còn mong mọi người đọc chúng. Vấn đề này đã được nói tới trong phần giải thích mối quan hệ giữa đọc kiểm soát và đọc phân tích.
Trên thực tế, có thể đứa trẻ không biết câu đó có nghĩa gì, do đó nó vẫn phải học môn toán. Nếu đọc xong một cuốn sách lý thuyết, quan điểm của bạn về vấn đề viết trong sách có thay đổi ít nhiều thì bạn buộc phải có những điều chỉnh nhất định về cách nhìn nhận sự việc của mình, nhưng không nhất thiết phải hành động theo sự điều chỉnh đó. Nhưng triết học không hạn chế ở những câu hỏi lý thuyết.
Nếu bạn nhớ những gì một tác giả nói, nghĩa là bạn đã học được điều gì đó khi đọc tác phẩm của người đó. Có thể anh ta đúng hoặc sai, nói dối hay nói thật, nhưng điều cần thiết ở đây là bạn sẽ nhanh chóng tìm được lối ra bằng việc đi theo hành lang B. Cũng giống như tác phẩm văn chương, hầu hết độc giả có thể nhận ra một tác phẩm khoa học ngay khi nhìn thấy nó.
Các quy tắc đọc phân tích đều hướng tới việc vượt qua trở ngại này. Một cuốn bách khoa toàn thư sẽ không trung thực nếu có ý kiến riêng của các biên tập viên mà không được số đông hưởng ứng. Khi đó, bạn nên đọc báo hơn là đọc sách vì cuốn sách không thể giúp bạn trau dồi tri thức nếu bạn không cố hiểu nó.